Dựa trên thông tin Anh/Chị cung cấp, Công Ty Luật ACC xin phép phân tích và đưa ra hướng dẫn cụ thể như sau.
Quy định chung về thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công
Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung), thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là một trong những loại thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Dù là nhân viên làm việc bán thời gian và trả lương theo buổi, khoản thu nhập này vẫn được coi là thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng các điều kiện pháp lý. Nguyên tắc tính thuế áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ hai nơi trở lên hoặc từ một nơi nhưng trên mức giảm trừ gia cảnh (hiện nay là 11 triệu đồng/tháng cho bản thân và 4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc. Do đó, không có quy định miễn thuế chỉ vì thu nhập "nhỏ" mà phải dựa trên tổng thu nhập chịu thuế sau khi trừ các khoản giảm trừ hợp pháp.
Trường hợp khấu trừ thuế TNCN 10% tại nguồn
Đối với nhân viên bán thời gian trả lương theo buổi, nếu hợp đồng lao động dưới 03 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động (thường áp dụng cho lao động thời vụ, bán thời gian), tổ chức chi trả thu nhập phải khấu trừ thuế TNCN với mức thuế suất cố định 10% trên phần thu nhập chịu thuế từ 2.000.000 đồng trở lên mỗi lần chi trả, theo Điều 25 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi) và hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP. Cụ thể:
- Nếu thu nhập mỗi buổi hoặc mỗi lần chi trả dưới 2.000.000 đồng, không phải khấu trừ thuế tại nguồn.
- Nếu từ 2.000.000 đồng trở lên, khấu trừ ngay 10% trước khi chi trả cho cá nhân.
Ví dụ, nếu nhân viên nhận 3.000.000 đồng cho một buổi làm việc, tổ chức phải khấu trừ 300.000 đồng thuế TNCN và chỉ trả 2.700.000 đồng. Trường hợp này áp dụng cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng ngắn hạn, nhằm đảm bảo thu thuế tạm thời trước khi cá nhân quyết toán cuối năm.
Điều kiện miễn thuế hoặc không khấu trừ
Thu nhập từ tiền lương, tiền công không được miễn thuế chỉ vì mức thu nhập nhỏ, trừ các trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 3 và Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi), như thu nhập từ trợ cấp, phụ cấp không vượt mức quy định hoặc thu nhập dưới mức lương tối thiểu vùng (nhưng vẫn phải kê khai nếu tổng thu nhập vượt ngưỡng). Theo Thông tư số 111/2013/TT-BTC, nếu tổng thu nhập chịu thuế trong năm sau khi trừ giảm trừ gia cảnh dưới 60.000.000 đồng (tương đương 5 triệu đồng/tháng), cá nhân có thể được hoàn thuế nếu đã khấu trừ thừa, nhưng không miễn khấu trừ ban đầu. Do đó, công ty vẫn phải khấu trừ 10% nếu thu nhập mỗi lần từ 2.000.000 đồng trở lên, và cá nhân có quyền quyết toán để điều chỉnh cuối năm tại cơ quan thuế.
Giới thiệu về dịch vụ Thuế tại Công ty Luật ACC
ACC cung cấp dịch vụ liên quan đến thuế đa dạng , từ những việc vận hành hàng ngày đến các vấn đề pháp lý phức tạp.
Giải pháp Thuế toàn diện cho Doanh nghiệp:
– Tư vấn Thuế chuyên sâu: Cập nhật và áp dụng chuẩn xác các quy định về VAT, TNDN, TNCN, giúp doanh nghiệp luôn đi đúng luật.
– Đại diện làm việc với Cơ quan Thuế: Thay mặt doanh nghiệp giải trình, bảo vệ quyền lợi tối đa trong các đợt thanh tra, kiểm tra thuế.
– Hoàn thuế nhanh gọn: Xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT, dự án đầu tư chuyên nghiệp, giúp khơi thông dòng tiền bị ứ đọng.
– Tối ưu hóa số thuế phải nộp: Vận dụng thông minh các chính sách miễn, giảm và ưu đãi thuế để tiết kiệm chi phí hợp pháp.
💎 Tại sao chọn Luật ACC?
– Bảo vệ doanh nghiệp an toàn tuyệt đối trước rủi ro hậu kiểm.
– Đội ngũ chuyên gia xử lý hồ sơ quyết liệt, bám sát địa phương.
– Chi phí minh bạch: Hiệu quả vượt trội so với mức đầu tư.
Việc tuân thủ khấu trừ thuế TNCN giúp công ty tránh phạt hành chính từ 2.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng theo Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, đồng thời đảm bảo quyền lợi quyết toán của nhân viên. Nếu cần hỗ trợ soạn thảo, nộp hồ sơ hoặc theo dõi tiến trình, hãy liên hệ Công Ty Luật ACC.

Để lại một bình luận