Thù lao hội đồng quản trị có tính thuế tncn là câu hỏi thường được đặt ra bởi các thành viên hội đồng quản trị và doanh nghiệp khi xử lý thu nhập từ vai trò quản lý. Việc nắm rõ quy định này không chỉ giúp tránh rủi ro pháp lý mà còn tối ưu hóa nghĩa vụ thuế, đặc biệt trong bối cảnh các công ty ngày càng chú trọng tuân thủ. Cùng Công ty Luật ACC khám phá sâu hơn về vấn đề này.

1. Khoản thù lao hội đồng quản trị có tính thuế TNCN không?
Khoản thù lao trả cho các thành viên hội đồng quản trị được coi là một hình thức thu nhập từ hoạt động quản lý doanh nghiệp, và theo quy định pháp luật hiện hành, nó thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Cụ thể, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2024, quy định rằng thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm cả thù lao hội đồng quản trị là đối tượng chịu thuế. Nghị định số 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2024, xác nhận rõ ràng rằng các khoản thù lao này không được miễn trừ mà phải kê khai và nộp thuế theo mức lũy tiến từng phần.
Việc xác định thù lao hội đồng quản trị có tính thuế TNCN còn phụ thuộc vào tính chất của khoản thu nhập, chẳng hạn như thù lao cố định hàng tháng hoặc theo dự án, nhưng nhìn chung, tất cả đều được tính vào thu nhập chịu thuế từ lao động. Doanh nghiệp đóng vai trò là bên khấu trừ tại nguồn, nghĩa là họ phải tạm khấu trừ số thuế tương ứng trước khi chi trả cho thành viên hội đồng quản trị. Nếu không thực hiện đúng, cả doanh nghiệp và cá nhân đều có thể đối mặt với các biện pháp xử phạt hành chính theo quy định tại Luật Quản lý thuế.
Trong thực tế, nhiều trường hợp tranh chấp phát sinh từ việc không phân biệt rõ thù lao với các khoản chi phí khác, dẫn đến sai sót trong báo cáo thuế. Do đó, việc tham khảo ý kiến chuyên gia là cần thiết để đảm bảo tính chính xác, đặc biệt khi hội đồng quản trị thường bao gồm cả thành viên nội bộ và ngoại bộ, mỗi loại có thể có cách xử lý thuế hơi khác nhau dựa trên hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận.
Hơn nữa, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 và các sửa đổi bổ sung nhấn mạnh rằng thu nhập từ thù lao hội đồng quản trị không chỉ bao gồm tiền mặt mà còn các lợi ích phi tiền tệ nếu có, như cổ phần thưởng hoặc quyền lợi khác, tất cả đều phải được định giá và tính thuế. Nghị định 65/2013/NĐ-CP cung cấp hướng dẫn cụ thể về cách định giá các khoản này, giúp tránh tình trạng kê khai thiếu hoặc sai lệch. Trong bối cảnh kinh tế số hóa ngày nay, nhiều công ty cổ phần lớn thường xuyên trả thù lao cao cho hội đồng quản trị, và việc bỏ qua thuế TNCN có thể dẫn đến kiểm tra từ cơ quan thuế, gây thiệt hại lớn về tài chính và uy tín.
2. Các quy định pháp lý liên quan đến thù lao hội đồng quản trị và thuế TNCN
Các quy định pháp lý về thù lao hội đồng quản trị có tính thuế TNCN được xây dựng trên nền tảng của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, với các sửa đổi quan trọng từ Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2024. Những văn bản này định nghĩa thu nhập chịu thuế bao gồm mọi khoản từ tiền lương, tiền công, trong đó thù lao hội đồng quản trị được xếp vào nhóm thu nhập từ hợp đồng lao động hoặc dịch vụ quản lý. Ngoài ra, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2024 củng cố khung pháp lý, yêu cầu doanh nghiệp phải ghi nhận đầy đủ các khoản chi này trong báo cáo tài chính và thuế.
Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định số 12/2015/NĐ-CP và Nghị định số 146/2019/NĐ-CP, cung cấp chi tiết về đối tượng chịu thuế, bao gồm cả thành viên hội đồng quản trị là cá nhân cư trú và không cư trú tại Việt Nam. Đối với cá nhân cư trú, thuế được tính trên toàn bộ thu nhập toàn cầu, trong khi cá nhân không cư trú chỉ tính trên thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các công ty đa quốc gia, nơi hội đồng quản trị có thể bao gồm thành viên nước ngoài.
Hơn nữa, Bộ luật Lao động 2019 gián tiếp hỗ trợ bằng cách quy định về hợp đồng lao động, giúp phân biệt thù lao hội đồng quản trị với lương thông thường, nhưng vẫn khẳng định tính chất chịu thuế của nó. Trong thực tiễn áp dụng, cơ quan thuế thường kiểm tra kỹ lưỡng các khoản thù lao này để ngăn chặn tình trạng lạm dụng chi phí khấu trừ thuế cho doanh nghiệp.
Việc tuân thủ các quy định này không chỉ giúp cá nhân tránh phạt chậm nộp thuế mà còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khấu trừ chi phí hợp lý. Ví dụ, nếu thù lao được chứng minh là hợp lý và liên quan đến hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thể khấu trừ toàn bộ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025. Tuy nhiên, bất kỳ sai sót nào trong việc phân loại thu nhập cũng có thể dẫn đến điều chỉnh từ cơ quan thuế, nhấn mạnh nhu cầu cập nhật thường xuyên các thay đổi pháp lý.
>> Đọc thêm: Dịch vụ tư vấn thuế thu nhập cá nhân
3. Cách tính và kê khai thuế TNCN đối với thù lao hội đồng quản trị
Việc tính thuế TNCN cho thù lao hội đồng quản trị có tính thuế TNCN tuân theo biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 và các sửa đổi, với mức thuế từ 5% đến 35% tùy theo mức thu nhập hàng năm. Cụ thể, thu nhập từ thù lao được cộng dồn vào tổng thu nhập chịu thuế của cá nhân, sau khi trừ các khoản giảm trừ gia cảnh (như 11 triệu đồng/tháng cho bản thân và 4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc). Nghị định 65/2013/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết cách tính, yêu cầu doanh nghiệp khấu trừ tại nguồn với mức tạm tính 10% trên khoản thù lao vượt quá 2 triệu đồng/lần chi trả nếu là thu nhập không thường xuyên, hoặc theo biểu lũy tiến nếu thường xuyên.
Trong quá trình kê khai, doanh nghiệp phải lập tờ khai thuế TNCN theo mẫu quy định tại Thông tư 80/2021/TT-BTC (thay thế các mẫu cũ theo Nghị định 12), nộp hàng tháng hoặc hàng quý tùy theo điều kiện kê khai thuế GTGT. Cá nhân nhận thù lao từ hội đồng quản trị không trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp sẽ bị khấu trừ thuế 10% ngay tại nguồn cho mỗi lần chi trả từ 2 triệu đồng trở lên, không áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần trong tháng/quý.
Ngoài ra, nếu thù lao bao gồm các khoản thưởng hoặc lợi ích khác (như nhà ở, xe cộ, bảo hiểm không bắt buộc), chúng phải được xác định là thu nhập chịu thuế và định giá theo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC. Doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN trên các lợi ích này, đồng thời lưu trữ hợp đồng và chứng từ chi trả để chứng minh tính hợp lý khi cơ quan thuế quyết toán.
>> Đọc thêm: Cá nhân tự quyết toán thuế TNCN qua mạng như thế nào?
4. Trách nhiệm của doanh nghiệp và cá nhân trong việc xử lý thuế thù lao hội đồng quản trị
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế TNCN từ thù lao hội đồng quản trị theo Luật Thuế thu nhập cá nhân và Thông tư 111/2013/TT-BTC. Doanh nghiệp phải đăng ký mã số thuế cho thành viên hội đồng quản trị nếu chưa có và báo cáo qua hệ thống kê khai thuế điện tử. Nếu không khấu trừ hoặc nộp chậm, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP với mức phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn lậu hoặc tiền chậm nộp 0,03%/ngày.
Đối với cá nhân, trách nhiệm bao gồm cung cấp thông tin chính xác và trực tiếp quyết toán thuế năm nếu thuộc trường hợp phải quyết toán theo Thông tư 80/2021/TT-BTC. Cá nhân có quyền yêu cầu doanh nghiệp cấp chứng từ khấu trừ thuế để làm căn cứ quyết toán hoặc hoàn thuế với cơ quan thuế, chứ doanh nghiệp không trực tiếp hoàn trả tiền thuế đã nộp vào ngân sách. Trong trường hợp thành viên hội đồng quản trị là cá nhân không cư trú, doanh nghiệp khấu trừ thuế TNCN theo thuế suất 20%, không áp dụng quy định về thuế nhà thầu (vốn dành cho tổ chức/kinh doanh).
Hơn nữa, thù lao hội đồng quản trị thường được điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều lệ công ty, không chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động 2019 trừ khi thành viên đó có ký kết hợp đồng lao động song song. Trong thực tế, các doanh nghiệp cần lưu ý tách biệt thù lao hội đồng quản trị và tiền lương để áp dụng đúng phương pháp khấu trừ, giảm thiểu rủi ro pháp lý.
5. Câu hỏi thường gặp
Thù lao hội đồng quản trị có được khấu trừ chi phí trước khi tính thuế TNCN không?
Không. Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 và Nghị định 65/2013/NĐ-CP, thù lao hội đồng quản trị thường không được khấu trừ chi phí cá nhân trước khi tính thuế, trừ trường hợp chứng minh được chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý như đi lại công tác.
Nếu thành viên hội đồng quản trị là người nước ngoài thì thuế TNCN được tính như thế nào?
Đối với cá nhân không cư trú, Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định thuế TNCN từ thù lao hội đồng quản trị được khấu trừ 20% trên thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không áp dụng các khoản giảm trừ (gia cảnh, bảo hiểm…). Doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế và báo cáo theo pháp luật thuế Việt Nam.
Thù lao hội đồng quản trị có thể được miễn thuế trong trường hợp nào?
Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 chỉ miễn thuế cho một số khoản thu nhập cụ thể như trợ cấp một lần, nhưng thù lao hội đồng quản trị thông thường không thuộc diện miễn trừ theo Nghị định 65/2013/NĐ-CP. Chỉ khi khoản thù lao dưới 2 triệu đồng/lần và không thường xuyên, mới áp dụng mức khấu trừ 10% mà không cần quyết toán đầy đủ.
Thù lao hội đồng quản trị có tính thuế TNCN là vấn đề pháp lý phức tạp nhưng có thể giải quyết hiệu quả nếu nắm vững quy định. Việc tuân thủ không chỉ tránh phạt mà còn nâng cao uy tín doanh nghiệp. Để nhận tư vấn chi tiết và hỗ trợ kê khai thuế chuyên sâu, hãy liên hệ Công ty Luật ACC ngay hôm nay. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của chúng tôi cam kết mang đến giải pháp tối ưu, giúp bạn yên tâm trong mọi hoạt động quản lý.
Để lại một bình luận