Công Ty Luật ACC – Đối Tác Pháp Lý Tin Cậy

Bản án tranh chấp hợp đồng góp vốn mới nhất

Tranh chấp hợp đồng góp vốn xuất hiện phổ biến trong thực tiễn xét xử khi các bên không thực hiện đúng cam kết về tài sản, tiến độ hoặc nghĩa vụ hợp tác kinh doanh. Việc tham khảo các bản án đã tuyên của Tòa án giúp đương sự đánh giá chính xác góc nhìn pháp lý và rủi ro tố tụng khi khởi kiện. Hãy cùng Công ty luật ACC tìm hiểu chi tiết qua các phán quyết thực tế.

Bản án tranh chấp hợp đồng góp vốn mới nhất
Bản án tranh chấp hợp đồng góp vốn mới nhất

1. Bản án số 214/2023/DS-PT ngày 18/05/2023 của TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng góp vốn dự án bất động sản

Vụ án giải quyết tranh chấp giữa cá nhân góp vốn và doanh nghiệp bất động sản khi dự án chậm tiến độ và vướng mắc pháp lý kéo dài.

  • Tóm tắt vụ án: Năm 2019, ông Nguyễn Văn A ký hợp đồng góp vốn với Công ty Cổ phần Đầu tư B để nhận chuyển nhượng 01 lô đất nền dự án với giá trị 2,8 tỷ đồng. Ông A đã hoàn thành nộp đủ 100% tiền theo tiến độ. Đến năm 2021 (quá thời hạn bàn giao 24 tháng), Công ty B vẫn không bàn giao được nền đất do dự án chưa hoàn thiện hạ tầng và chưa đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định. Ông A khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng, trả lại tiền và bồi thường thiệt hại.
  • Phán quyết của Tòa án:
  • Tòa án xác định Công ty B vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, lỗi hoàn toàn thuộc về bên nhận góp vốn.
  • Tuyên hủy bỏ hợp đồng góp vốn giữa ông A và Công ty B.
  • Buộc Công ty B hoàn trả toàn bộ 2,8 tỷ đồng tiền gốc đã nhận.
  • Căn cứ kết quả định giá tài sản tại thời điểm xét xử sơ thẩm (giá đất tăng), Tòa tuyên buộc Công ty B bồi thường thiệt hại 1,1 tỷ đồng cho ông A tương ứng với phần chênh lệch giá trị tài sản bị tổn thất.

2. Bản án số 18/2022/KDTM-ST ngày 28/09/2022 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp nghĩa vụ góp vốn điều lệ công ty TNHH

Vụ án giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại giữa các thành viên sáng lập khi một bên không thực hiện đúng cam kết góp vốn ban đầu.

  • Tóm tắt vụ án: Bà Trần Thị C và ông Lê Văn D thành lập Công ty TNHH X với vốn điều lệ 5 tỷ đồng. Ông D đăng ký cam kết góp 3 tỷ đồng (tương ứng 60% vốn điều lệ) trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày cấp đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, ông D chỉ mới góp 1 tỷ đồng (20%) và quá hạn 12 tháng vẫn không góp tiếp. Bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ tỷ lệ sở hữu cam kết của ông D và điều chỉnh theo thực tế.
  • Phán quyết của Tòa án:
  • Tòa án tuyên không công nhận tỷ lệ 60% vốn điều lệ theo cam kết ban đầu của ông D.
  • Xác định tỷ lệ phần vốn góp thực tế của ông D tại Công ty TNHH X chỉ là 20% (tương ứng 1 tỷ đồng đã nộp).
  • Buộc Công ty TNHH X thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư theo tỷ lệ vốn góp thực tế.
  • Buộc ông D phải thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền 2 tỷ đồng chậm góp tính theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 do chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với công ty.

3. Bản án số 45/2023/DS-ST ngày 10/11/2023 của TAND huyện M, tỉnh Lâm Đồng về xử lý hợp đồng góp vốn bị tuyên vô hiệu

Vụ án giải quyết hậu quả pháp lý khi hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất vi phạm quy định bắt buộc về hình thức.

  • Tóm tắt vụ án: Ông Ngô Văn G lập hợp đồng giấy viết tay (không công chứng) góp vốn bằng 500m² đất nông nghiệp cho ông Vũ Văn H để cùng đầu tư trang trại. Sau khi ông H chi tiền cải tạo đất và dựng nhà xưởng, giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn. Ông G khởi kiện đòi lại đất vì cho rằng hợp đồng giấy viết tay không có hiệu lực. Ông H yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng hoặc buộc ông G bồi thường toàn bộ chi phí đầu tư.
  • Phán quyết của Tòa án:
  • Tòa án xác định giao dịch góp vốn bằng quyền sử dụng đất bắt buộc phải công chứng/chứng thực. Do vi phạm hình thức và các bên chưa thực hiện đủ 2/3 nghĩa vụ, Tòa tuyên Hợp đồng góp vốn bị vô hiệu.
  • Áp dụng nguyên tắc xử lý hợp đồng vô hiệu (hoàn trả cho nhau những gì đã nhận), Tòa buộc ông H trả lại 500m² đất cho ông G.
  • Căn cứ kết quả của Hội đồng định giá tài sản trên đất, Tòa buộc ông G phải hoàn trả cho ông H số tiền 600 triệu đồng (bao gồm tiền mặt đã nhận và giá trị nhà xưởng, chi phí cải tạo đất đã đầu tư thực tế) trước khi nhận lại đất.

4. Bản án số 06/2023/KDTM-PT ngày 22/03/2023 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng góp vốn thành lập trường học

Vụ án xử lý mâu thuẫn giữa các nhà đầu tư góp vốn xây dựng cơ sở giáo dục tư thục khi một bên tự ý thanh lý tài sản và không thực hiện đúng cam kết quản lý.

  • Tóm tắt vụ án: Công ty TNHH M và ông Nguyễn Văn K ký hợp đồng góp vốn hợp tác đầu tư xây dựng Trường Mầm non X với tổng số vốn 10 tỷ đồng (Công ty M góp 60%, ông K góp 40%). Cả hai bên đã chuyển đủ số tiền vào tài khoản chung dự án. Trong quá trình vận hành, ông K với tư cách đại diện quản lý trực tiếp đã tự ý ký hợp đồng thuê mặt bằng khác, thanh lý nhiều trang thiết bị của trường mà không thông qua ý kiến của Hội đồng quản trị Công ty M và không hạch toán sổ sách rõ ràng. Công ty M khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng góp vốn, hoàn trả lại khoản tiền 6 tỷ đồng đã góp và chia giá trị tài sản còn lại.
  • Phán quyết của Tòa án:
  • Về vi phạm nghĩa vụ: Tòa án xác định ông K đã vi phạm nghiêm trọng quy định về quản lý tài sản chung của các bên góp vốn khi tự ý định đoạt tài sản mà không có sự đồng ý của bên góp 60% vốn.
  • Về hiệu lực hợp đồng: Tuyên chấm dứt hợp đồng góp vốn hợp tác đầu tư giữa Công ty M và ông K.
  • Về phân chia tài sản: Tòa án căn cứ Báo cáo kết quả kiểm toán độc lập và Kết luận định giá tài sản thực tế của Trường Mầm non X tại thời điểm xét xử. Phán quyết buộc ông K phải hoàn trả cho Công ty M số tiền 5,4 tỷ đồng (sau khi đã trừ tỷ lệ hao mòn tài sản và chi phí vận hành hợp lý có chứng cứ chứng minh) và bàn giao lại toàn bộ quyền quản lý cơ sở cho bên nắm giữ tỷ lệ vốn góp đa số.

5. Câu hỏi thường gặp

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp vốn tại Tòa án được quy định như thế nào?

 Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đương sự cần lưu ý mốc thời gian này để chủ động nộp đơn khởi kiện đúng thời hạn luật định.

Chuyển tiền góp vốn qua tài khoản cá nhân nhưng không ghi nội dung thì có đòi lại được không?

Trong trường hợp chuyển tiền không ghi rõ nội dung "góp vốn", việc đòi lại tiền tại Tòa án sẽ khó khăn hơn nhưng vẫn có thể thực hiện được nếu người khởi kiện cung cấp thêm chứng cứ phụ trợ khác. Các tài liệu như tin nhắn trao đổi, biên bản làm việc, ghi âm cuộc gọi hoặc chứng cứ người làm chứng thể hiện bản chất giao dịch là góp vốn sẽ được Tòa án đánh giá toàn diện để làm căn cứ phán quyết.

Nộp đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp vốn ở cơ quan Tòa án nào?

Căn cứ Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn (người bị kiện) cư trú hoặc có trụ sở. Trường hợp tranh chấp liên quan đến bất động sản hoặc có đương sự/tài sản ở nước ngoài thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Tranh chấp hợp đồng góp vốn đòi hỏi các bên phải nắm rõ quy định pháp luật và thu thập chứng cứ chặt chẽ để bảo vệ tối đa quyền lợi của mình tại Tòa án. Đồng hành cùng Công ty luật ACC để biết thêm những thông tin hữu ích.

Lưu ý: Nội dung trên được tổng hợp và biên soạn nhằm cung cấp thông tin tham khảo cho người đọc. Do quy định pháp luật, chính sách và dữ liệu có thể thay đổi theo thời gian, ACC không cam kết thông tin luôn chính xác hoặc cập nhật đầy đủ tại mọi thời điểm. Trường hợp cần áp dụng vào thực tế hoặc giải quyết vấn đề cụ thể, Quý khách vui lòng tham khảo ý kiến từ chuyên gia hoặc đơn vị tư vấn chuyên môn. Trường hợp phát hiện nội dung có sai sót, vui lòng phản hồi để ACC rà soát và cập nhật kịp thời.


    HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN

    Để lại một bình luận

    Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *